BỊ ĐỘNG TRONG TIẾNG NHẬT

Bữa trước nhá vài cái hình đố mọi người nội dung bài hôm nay, có mấy bạn kêu “karma” (báo ứng, nghiệp, nhân quả..) mà cười tí ngất! Bài hôm nay thực ra tập trung về một khái niệm rất thú vị có trong mọi ngôn ngữ, đó là BỊ ĐỘNG.

Nếu đã quen với tư duy của tiếng Anh, người học tiếng Nhật sẽ thấy hình thái BỊ ĐỘNG trong tiếng Nhật quá ư là phức tạp và khó hiểu, quá ư loằng ngoằng và rắc rối. Tuy nhiên, để ý thử mà xem nhé, tư duy về BỊ ĐỘNG trong tiếng Nhật lại… cực kì giống Tiếng Việt. Ở bài này, tôi sẽ tập trung vào sự thú vị này.

Cảnh báo: Bài khá dài, không dành cho các bạn lười 

1.
Trước hết, hãy cùng nhau nhìn lại BỊ ĐỘNG trong tiếng Anh đã nhé:

Để có một câu BỊ ĐỘNG, ta hẳn phải có một câu CHỦ ĐỘNG dưới cấu trúc:

❤️ S + V + O (Chủ ngữ – Động từ – Tân Ngữ)

Tức là, V ở câu chủ động phải là NGOẠI ĐỘNG TỪ (ăn, uống, đấm, đá… chứ không thể là đi, đến, ngủ..)

Và câu bị động sẽ có hình thái:

❤️ O + To Be V + by S (V chia thể P2_ Past Participle)

(Tôi sẽ không đi quá sâu về chi tiết các bước biến đổi ở bài này).

Ví dụ:
🍁 Thằng trộm lấy mất ví tiền của tôi -> Ví của tôi bị thằng trộm lấy mất (1)
🍁 Đứa bé dẫm lên hoa -> Hoa bị đứa bé dẫm lên (2)

2.
Đến đây, các bạn đã thấy nó hơi khang khác tiếng Việt và tiếng Nhật chưa? Ở câu (2) thì không, nhưng câu (1) sẽ thường được nói như sau trong Tiếng Việt và Tiếng Nhật:

🍁 TÔI bị trộm lấy mất ví.
(私は)泥棒に財布を取られた。
(わたしは)どろぼうにさいふをとられた。

Chứ không ai nói:
🍁 私の財布は泥棒に取られた。
わたしはのさいふをどろぼうにとられた。

(Trong Tiếng Việt có thể có người nói “VÍ CỦA TÔI bị trộm lấy mất” nhưng nghe không thuận tai lắm nhỉ?)

Đó là sự giống nhau đầu tiên của BỊ ĐỘNG trong tiếng Việt và Tiếng Nhật. Nhưng lý do gì mà người ta không nói “Ví của tôi bị lấy” mà lại nói “Tôi bị lấy mất ví”? Chúng ta cùng đọc sự giải thích và xem tranh minh họa nhé!

🍀「行為を受ける人」の“持ち物や体の一部”が、ある行為を受ける場合、「行為を受ける人」を主語にして、次の形になる。

Tạm dịch: Khi đồ đạc mang theo hoặc 1 bộ phận trên cơ thể người bị động phải tiếp nhận 1 hành động nào đó, thì người bị động sẽ trở thành chủ ngữ, theo như mẫu sau đây.

Nghe hơi loằng ngoằng nhỉ. Đại khái, các bạn hãy hiểu là: câu BỊ ĐỘNG trong tiếng Nhật nhấn mạnh vào sắc thái cảm xúc của người BỊ nhận hành động. Ở câu “bị lấy ví” thì cái ví nó không có gì phải khó chịu hết, người khó chịu là TÔI, cho nên phải nói:
TÔI BỊ lấy mất ví.

Chứ không nói: VÍ BỊ lấy mất.

Tương tự ta hãy cùng nhìn vào bức tranh Dê bị người khác dẫm vào chân trên xe buýt. Trong Tiếng Nhật lẫn Tiếng Việt, câu được thể hiện như sau:

🍁 Deくんは足を踏まれた。(Deくんはあしをふまれた)

Viết như sau là sai nhé:

🍁 Deくんの足は踏まれた(Deくんのあしはふまれた)

TÓM LẠI, CẤU TRÚC LÀ: AはBにCをVられる。

Và A là cái thằng “chịu thiệt hại” đó 

3.
Tuy nhiên, trong trường hợp C không phải vật mang theo (ví, túi..) hay một bộ phận (chân, tay…) của A, mà ta lại muốn nhấn mạnh “C của A” thì ta có thể dùng dạng:

🍀AのCはBられる。

Ví dụ:

🍁 彼の弟は、先生に叱られた。
Anh tôi bị thầy mắng.

🍁 彼の本は、新聞に紹介された。
Cuốn sách của anh ấy được giới thiệu trên báo.

4.
Điều thú vị thứ hai khi so sánh hình thái BỊ ĐỘNG giữa tiếng Anh, tiếng Việt và tiếng Nhật nằm ở chi tiết NGOẠI ĐỘNG TỪ (tôi đã nhắc đến ở phần 1 là: trong tiếng Anh cần có một NGOẠI ĐỘNG TỪ để biến đổi câu chủ động thành câu bị động).

a) Thế nào là Ngoại Động Từ? Thế nào là Nội Động Từ?

Có khá nhiều cách để lý giải hai định nghĩa này nhưng tôi thấy khá hàn lâm. Tôi thường có một mẹo như sau, dù không phải áp dụng được 100% nhưng cũng phải đến hơn 90% là chính xác!

Các bạn hãy thử đặt từ để hỏi “ai”, “(cái) gì” vào NGAY SAU động từ đó. Nếu đặt được, nó là Ngoại Động Từ, nếu không thì là Nội.

Ví dụ:

🍁 Ăn GÌ? OK -> Ngoại
🍁 Uống GÌ? OK -> Ngoại
🍁 Hôn AI? OK -> Ngoại
🍁 Đi AI? Đi CÁI GÌ? -> Không được, chỉ có “Đi VỚI AI” “Đi BẰNG CÁI GÌ” -> Nội
🍁 Ngủ AI? Ngủ cái gì? -> Không được, chỉ có “Ngủ VỚI AI” “Ngủ TRÊN CÁI GÌ” -> Nội

b) Vậy, trong tiếng Việt và tiếng Nhật có cần Ngoại Động Từ để tạo nên một câu bị động không?

Có, nhưng không NHẤT THIẾT.

Ví dụ:

🍁 Bạn đến nhà chơi.
友幸が家へ来た。

ĐẾN tất nhiên là Nội Động Từ, 100% không thể khác. Không bao giờ có hình thái Bị Động sau trong tiếng Anh:

🍁 I was come by my friend (Tôi BỊ bạn đến nhà) -> SAI

Vậy nhưng, câu này hoàn toàn … hợp lý trong cả tiếng Việt lẫn tiếng Nhật:

🍁 Tôi BỊ bạn đến nhà.
友達に家へ来られた。

Câu này mang sắc thái “khó chịu” của “tôi”. Chắc thằng “bạn” là thằng nào đáng ghét lắm, hoặc là bị đồng chí bạn nào đến nhà không báo trước, đúng lúc chưa kịp làm đẹp chẳng hạn.

Bị Động trong tiếng Nhật mang đúng nghĩa đen của từ BỊ: Thật PHIỀN TOÁI, KHỔ SỞ biết bao!

c) Thêm một vài ví dụ nữa nhé:

🍁 Bố tôi CHẾT.
父は亡くなった。(ちちはなくなった)

CHẾT cũng là Nội Động Từ. Không có hình thái CHẾT AI? CHẾT CÁI GÌ? (chỉ có Ai chết? Cái gì chết?)

Nhưng “bố chết” khiến tôi buồn, tôi chịu nhiều thiệt thòi trong cuộc sống, tôi là người BỊ MẤT BỐ. Nên chúng ta hoàn toàn có thể nói:

🍁 (私は)父に亡くなられた。(わたしはちちになくなられた)
Tôi BỊ mất bố.

Hay:

🍁 Mưa (đã) rơi.
雨が降った。(あめがふった)

RƠI là Nội động từ. Nhưng “mưa rơi” khiến mình ướt át, khó chịu, bẩn hết quần áo, ta nói:

🍁 (私は)雨に降られた。(わたしはあめにふられた)
Tôi bị mắc mưa/ dính mưa…

――――――――――――――――――
TÓM LẠI:

Sử dụng câu Bị Động, ngoài việc nhấn mạnh TÂN NGỮ, tiếng Nhật và tiếng Việt đều còn nhấn mạnh vào Cảm Xúc (khó chịu, bị động) của NGƯỜI TIẾP NHẬN hành động.



0 0 vote
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments